Chieuxua.com Discussions Board index
Menu
  • Home
  • Faq
  • Members List
  • Search
  • Register


 Board index Nét Văn Hoá

Sat Nov 25, 2006 7:01 pm
cuarangmuoi71
New Member

Joined: 24 Nov 2006
Posts: 5

Biểu tượng truyền thống của làng quê Việt Nam

Ở mỗi làng châu thổ Bắc Bộ thường có một luỹ tre bao quanh khu thổ cư. Làng tương đối khép kín, chỉ để một hoặc hai lối ra vào và chỗ này thường dựng một cái cổng làng là giới hạn giao lưu liên làng và mở ra khu thổ canh. Buổi sáng, cổng làng mở, dân làng đi chợ búa, công việc, hoặc cùng với trâu bò đi ra đồng cày cấy, đến tối lặn mặt trời, sau khi dân làng và trâu bò về thôn rồi thì cổng làng được đóng lại, "nội bất xuất, ngoại bất nhập".

Cổng làng không phải là biểu tượng duy nhất của một làng quê mà nó tồn tại cùng với cây đa, mái đình. Đối với những người xa xứ, khi về quê hương, còn cách khoảng 2, 3km là đã có thể nhìn thấy vòm cây đa và biết rằng mình đã sắp sửa về đến làng. Nhưng về tới gần hơn, qua cổng làng mới chính thức bước vào mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình, và coi như đã về tới nhà mình vì người trong một làng thường đối xử với nhau như trong một gia đình.

Cổng làng thường tập trung nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ như ở tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, chủ yếu là những vùng trồng lúa và có văn hoá làng xã. Thực ra, cổng làng nào cũng vậy, đó là nơi thân thuộc với mỗi người dân. Đi xa nhớ ngày về sẽ có người đứng đợi ở cổng làng. Thương nhau cũng hò hẹn ở chốn cổng làng, rồi khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành một thành viên trong cộng đồng dân cư... Giữ làng tức là giữ nước, ở nơi cổng làng không ít người con trai đã lấy thân mình để ngăn giặc. Kể từ khi định đô, lập quốc các triều đại phong kiến đều ra sức củng cố làng và làng luôn được coi trọng. Mỗi cái cổng làng đều có một nét văn hoá riêng, tùy theo đặc điểm làng đó. Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề... tất cả những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng. Và đó là một phần của văn hóa làng.

Bộ mặt những làng quê Bắc bộ ngày nay đã biến đổi nhiều của làn sóng đô thị hóa ồ ạt. Những chiếc cổng làng có vẻ như không còn hợp với những con đường bê tông mở rộng, với những xe công nông, ôtô tải ra vào phục vụ những nhu cầu thường nhật ngày càng lớn của người dân nông thôn. Nhưng trong một góc tâm thức nào đó của người dân, cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống. Hơn nữa, cổng làng là một trong những biểu tượng văn hoá, bản sắc văn hoá của làng quê ở châu thổ Bắc bộ Việt Nam.

Cổng làng Bắc bộ như một lời mời chào thành thật nhất để ta bước vào với đời sống làng quê.



View user's profileSend private messageReply with quote

Sat Nov 25, 2006 7:01 pm
cuarangmuoi71
New Member

Joined: 24 Nov 2006
Posts: 5
Chợ Quê

Chợ Quê đối với người Việt chúng ta không phải chỉ là một cái chợ như siêu thị ở Âu Mỹ, mà là một nơi gói ghém nhiều hình ảnh thân thương, là một nét đặc thù văn hóa dân tộc. Chung chung thì chợ là nơi đổi chác buôn bán song mỗi làng có một sắc thái riêng. Chợ có thể chỉ là một bãi đất trống, vài nông dân đem nông phẩm thặng dư của mình ra đó đổi chác cho nhau rồi từ từ thu hút người mua kẻ bán hàng ngày hoặc theo định kỳ mà thành cái chợ hay chợ phiên. Chợ còn là nơi để trai gái hò hẹn, đặc biệt là chợ phiên ở vùng cao.

Anh về hái đậu trẩy cà
Để em đi chợ kẻo mà lỡ phiên
Chợ lỡ phiên tốn công thiệt của
Miệng tiếng người cười rỡ sao nên
Lấy chồng phải gánh giang sơn
Chợ phiên còn lỡ, giang sơn còn gì ? .



View user's profileSend private messageReply with quote

Sat Nov 25, 2006 7:03 pm
cuarangmuoi71
New Member

Joined: 24 Nov 2006
Posts: 5
Cây đa



Từ bao đời nay, mỗi người Việt đều coi mái đình, cây đa như một biểu tượng của làng quê truyền thống. Y' nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người đã có nhiều thành tựu ở một lĩnh vực nào đó thường được đồng nghiệp và xã hội coi là "cây đa, cây đề", biểu tượng cho sức làm việc quên mình, dẻo dai, cho sự tích lũy kiến thức phong phú.

Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy, cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất trời, đôi khi là cả một vòng đời người.

Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ

Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích. Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa. Với người dân quê, gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ.

Không tiền ngồi gốc cây đa
Có tiền thì hãy lân la vào hàng

Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi dân gian. Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng. Gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái:

Em đang dệt vải quay tơ
Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà
Hẹn giờ ra gốc cây đa
Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao.

Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người. Trong làng, cây đa có mặt ở nhiều vị trí khác nhau nhưng hầu như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa. Tục ngữ có câu:

"Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề"

Hay: "Cây thị có ma, cây đa có thần"

Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên linh thiêng hơn, con người khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên. Cây đa được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã và các linh hồn bơ vơ. Cây đa nào càng già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh. Gốc đa ở các di tích thường được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân làng.

Như vậy, cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang đậm yếu tố tâm linh. Phải chăng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng cây đa có sức sống bền lâu trong văn học dân gian, văn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam.



View user's profileSend private messageReply with quote

Sat Nov 25, 2006 7:03 pm
cuarangmuoi71
New Member

Joined: 24 Nov 2006
Posts: 5
Ðình làng



Bất kỳ một làng quê nào ở Việt Nam cũng có một ngôi đình. Ðình là ngôi nhà công cộng của làng quê thời xưa, dùng làm nơi thờ Thành Hoàng và họp việc làng.

Ðó là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột lim tròn to thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Vì kèo, xà ngang, xà dọc của đình cũng làm toàn bằng gỗ lim. Tường đình xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài, bốn góc có bốn đầu đao cong vút lên, có hình đuôi con chim phượng uốn cong. Trên nóc đình là hai con rồng chầu mặt nguyệt.

Sân đình được lát gạch. Trước đình có hai cột trụ cao vút, trên đình được tạc hình con nghê.

Trong đình, gian giữa có bàn thờ, thờ một vị thần của làng gọi là Thành Hoàng. Một chiếc trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên theo nhịp ngũ liên thúc giục dân làng về đình tụ họp bàn tính công việc của làng.

Vào những ngày lễ, tết, dân làng đến đình thắp hương tế lễ nhộn nhịp, cầu mong Thành Hoàng và Trời đất giúp cho mưa thuận gió hoà, cày cấy, làm ăn thuận tiện và có nhiều phúc lành.

Mùa xuân đến, sân đình trở thành một sâu khấu hát chèo hoặc để đấu vật, chọi gà, múa hát giao duyên.

Xung quanh đình thường có những cây đa cổ thụ vẫy gọi chim về làm tổ, ríu rít âm thanh, có giếng nước rộng trong vắt làm nước ăn và để các cô gái làng xinh đẹp đến soi gương làm duyên. Trước đình thường có một hồ nước trống sen, hương thơm ngào ngạt...

Ðình làng còn là nơi trai thanh nữ tú trong làng hẹn hò tình yêu.

Ngôi đình làng Việt Nam cổ kính, trang nghiêm, ẩn mình sau luỹ tre xanh mướt là một tác phẩm nghệ thuật của con người hoà nhập trong làng quê.



View user's profileSend private messageReply with quote

Sat Nov 25, 2006 7:04 pm
cuarangmuoi71
New Member

Joined: 24 Nov 2006
Posts: 5
Con đường làng



Đường làng đi giữa xanh tre, bên hàng rào ô rô lá như gai nhọn, chỉ có con trâu con bò chiều về, đi qua, mới ngoái cổ lại, tớp một cái, khinh thường gai nhọn rồi vừa thủng thẳng đi vừa nhai như ngẫm nghĩ suy tưởng điều gì về cuộc đời nhưng không cho ta biết.

Có một câu thơ đầy gợi cảm về con đường làng Việt Nam:

"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo..."

Cụ Nguyễn Khuyến đã nói đúng cái thần, cái hồn trăm năm, nghìn năm không cần bình luận gì thêm cũng đã thấy đầy đủ gương mặt một con đường làng mà ta từng một lần đặt chân, trở về quê mẹ hay hỏi thăm đến nhà người bạn.

Nếu mùa xuân này ta nhớ lại đường xưa, thì đường ơi, có nhận ra nhau, ta có bộ quần áo mới hơn hay đường mang trên mình nhiều màu xanh chiều rộng?

Thông thường đường làng mở đầu (hay kết thúc) từ chiếc cổng làng, nơi giáp với một vũ trụ bao la là cánh đồng dẫn về những nẻo nào, có người sống cả đời trong làng, "ít khi đặt chân đến đó", dù ở đấy có xa lộ cao tốc, có đường nhựa phẳng lì, có đá răm trải thảm.

Đường làng đi giữa xanh tre, bên hàng rào ô rô lá như gai nhọn, chỉ có con trâu con bò chiều về, đi qua, mới ngoái cổ lại, tớp một cái, khinh thường gai nhọn rồi vừa thủng thẳng đi vừa nhai như ngẫm nghĩ suy tưởng điều gì về cuộc đời nhưng không cho ta biết.

Lá tre buông mình lờ lững ngày này sang tháng khác, giạt vào hai vệ đường, có cây nấm dại, cây hoa mò, sợi rau má, lá củ gấu đường làng im lặng không than thở, cứ thế trườn đi theo cái xóm trong thôn, rẽ vào nhà ai đó, ngoặt phía này, rẽ sang kia, có chỗ thước thợ, có chỗ chữ chi, có nửa đường vòng...

Đón con đường, có chiếc cổng xây bề thế, quét vôi vàng, vôi trắng mỗi khi xuân rập rình trở lại. Cũng có chỗ chỉ là chiếc cổng gỗ, nhưng có mái tranh, y như một ngôi nhà nhỏ, then cửa là chiếc tay thước đã mòn qua bao mùa cấy hái. Đơn sơ hơn, là chiếc cổng nhỏ, phía trên là một cây tre nằm ngang, cánh cổng là mấy thanh tre đan ngang ghép dọc, nếu đóng lại vẫn còn chỗ, cho con gà trống vượt qua, con chó chui lọt để đi tìm bạn. Đôi khi, còn đơn giản hơn nữa, cái cổng chỉ là mấy cành rào giương lên, chống bằng một thanh tre chết róc, hạ xuống thì vẫn có thể nhìn thấu trong nhà, người đứng ngoài đường gọi, người trong thưa, như không có cách ngăn...

Ta thả bàn chân trần trên đường làng, nghe mát lạnh gan chân, hơi đất quê mịn màng hay hồn làng xóm thẩm thấu tận đáy hồn ta, con đường làng bình dị thân thương ít được qui hoạch theo một đường thẳng đông tây, hay xuyên chiều nam bắc. Nó là con đường xương cá, cứ như tự nhiên mà sinh ra, tự nhiên mà nên diện mạo, nhưng không, tuy đường không do người kiến trúc sư tạo tác, nhưng nó được sinh thành bởi muôn vạn bàn chân, những bàn chân nẻ miếng, những ngón chân toè ra vì gian lao, những gót rỗ nhọc nhằn, năm này sang năm khác, mùa nọ tiếp mùa kia, có vườn cải hoa vàng chứng kiến cuối đông, có hương hoa bưởi mông lung mùa xuân ngòn ngọt, có tiếng gà xáo xác những trưa im, có cành xanh loà xoà xuống trêu người, mà còn đôi chỗ ta gặp hàng ruối xén bằng bặn, nhưng bằng bặn bằng bàn tay người thợ xén cây nghiệp dư, và nếu người thợ ấy quên đi thì lộc nõn, cành non lại đơm chồi như mái tóc trẻ thơ ít gặp ông thợ cạo...

Con đường làng nối những tâm hồn lại với nhau, nếu làng ngoài bãi, ven đê, phù sa bồi đắp, như bãi giữa sông Hồng, như làng Thuận Vi, Thái Bình thì lúc nào nó cũng mang màu nâu non của phù sa trẻ, sau mùa lụt ngập, đường lại hồi sinh, bàn chân người thành chiếc bàn là, thành bánh xe lu cho êm phẳng.

Làng châu thổ, luỹ tre trăm năm ấm bụi, măng mùa xuân gọi bầu trời trong sáng, những làng như thế thường có Hương ước: đám cưới nào cũng phải nộp cheo cho làng bằng mấy trăm viên gạch nung già. Gạch nằm nghiêng bên nhau, viên nọ khít bên kia, có đoạn còn tạo ra hình kỷ hà, đường chéo như mặt sàng đan khéo. Con đường gạch sinh ra từ đấy, nó bắt đầu từ cổng làng, rẽ ra đình, ngoặt sang chùa, vào từng ngõ chính, gặp cổng nhà ai mới thêm vài viên đá xanh, là mảnh vỡ của chiếc cối đá thủng nào kia. Những con đường gạch bền bỉ nắng mưa, không vỡ, không lún, không xô, mà dẫu có làm sao thì gạch cheo, dự trữ vẫn còn...

Ngày mùa, chỗ đường gạch quang quẻ, nó được dùng làm nơi phơi rơm rạ, bước chân người êm như đi trên nhung. Mùa thu mưa bay nỗi Ngâu thương nhớ, con đường mang vẻ quạnh hiu như lòng người nơi cách trở, nhưng xuân về, nó lại được vang lên tiếng guốc kí cốp vui tai. Lạ một điều, không bao giờ có đôi guốc vang hai âm thanh giống nhau, thế nào cũng phải một trầm một cao, một trong một đục, như song ca, như hoả tấu, như nâng đỡ nhau lên, và đường làng rộn rã, tưởng hồi sinh.

Khe gạch có thể vương sợi rơm sót lại, đã nảy mầm thành cây mạ cớm, bước con trâu dẫm bẹp, nó lại đứng lên, nó chẳng sợ gì xe cộ hay tai nạn giao thông, mà chỉ có gánh gồng, chân đất, bước trâu, may ra mới in dăm ba vết hằn lốp xe đạp thồ mạ, thồ phân, thồ thóc.

Những con đường làng lát gạch ấy hiếm dần, nộp cheo cũng đã thưa đi, hiện đại, con đường mang gương mặt xi măng trắng lốp, khô cứng nhưng sạch sẽ, mất một phần thơ mộng nhưng thuận tiện, phong quang, âu đó cũng là nét mới, bổ sung vào câu thơ Nguyễn Khuyến.

Những làng quê xưa nay, ít khi được qui hoạch từ đầu, nên cũng ít những con đường thẳng tắp. Con đường phải lượn theo cái hàng rào, khu vườn, khuôn ao, nếp nhà mới, nhưng nó vui lòng làm sợi chỉ, dẫn vào từng gia đình ấm cúng, vì thế mà nó là "Ngõ trúc quanh co" chăng? Con đường quanh co, nhưng lòng người lại thẳng, đó là điều ta phải nhuộm sương trên tóc mới nhận ra, đường ạ. Nó sinh ra không phải bằng cái thước và cây bút chì, nói như Lỗ Tấn: "Trái đất vốn không có đường, nhưng chân người đi mãi mà thành đường". Hai ông thông gia đầu xóm cuối xóm tìm nhau, bà chị đầu thôn gặp bà em cuối thôn, anh trai làng hẹn nàng thôn nữ nơi bờ giếng, cạnh gốc ruối già, đội nhi đồng tập hợp cạnh đình để tùng dinh nhịp trống ếch cổ động, bác kế toán đi họp đội sản xuất, anh tuyên truyền gọi loa con đường mở lòng đón nhận. Cả những đêm xuân, đâu đó vang nhịp trống hội làng, tiếng rúc rích, tiếng đấm vai thùm thụp, tiếng thì thầm, tiếng chí choé trêu nhau, trai hoà gái, gái bên trai đường làng nằm mơ trong thanh bình, một chút tấp nập rồi lại lặng lẽ trong khuya...

Nay nông thôn đổi mới, đường làng cũng thoát xác nhiều nơi. Qui hoạch từ đầu, con đường thẳng tắp, ô tô con trên huyện, trên tỉnh về vào tận xóm, đỗ bên ngõ, ngay cái cổng gỗ, tường đá ong, gạch pa panh, thêm mấy cành tre vẫy lá.

Có lẽ chỉ có ngoài "trại", chỗ tách hộ ở riêng, làm nhà mới, mái nhà còn tươi, vườn còn thông thống, con đường làng còn mang nét sơ khai, có khi chỉ là bờ ruộng đắp thêm, bên bụi nía, ao bèo, bè muống...

Những chiếc cổng làng nằm rải rác hai bên con đường, vẫn tuân theo nếp nghĩa ngàn xưa, không ăn thẳng vào nhà, mà lệch đi chút ít. Xứ Huế, còn tạo ra chiếc bình phong xây gạch cuốn thư, hoặc chỉ bằng cây xanh uốn nếp, để từ ngoài đường đi vào, khách cũng phải đi vòng chút ít mới tới bậc thềm. Điều đó giống như mọi căn nhà bao giờ cũng tránh đầu đao đình hoặc chùa hướng thẳng vào gian giữa nhà mình, một điều kiêng cứ bảo lưu?

Có lẽ sẽ đến một ngày đường làng cũng chia ô bàn cờ khi nông dân được đô thị hoá chăng? Còn lâu lắm, ta chờ. Bây giờ, có dịp, ta trở lại con đường làng thuở ấu thơ theo mẹ ra đồng mót lúa, cầm đồng xu ra chiếc quán đầu làng dưới gốc đa mua viên kẹo bột kẹo bi, con đường làng đón ta hồ hởi, hay lòng ta khấp khởi vui reo khi ngó qua rào, vườn cải nhà ai bừng một vầng nắng vàng tươi hoa nở. Đường làng ơi, con đường tình yêu, con đường thương mến, điều không thể thiếu được trong mỗi hồn làng...



View user's profileSend private messageReply with quote

Display posts from previous:   
Post new topic   Reply to topic    Page 1 of 1 All times are GMT + 7 Hours


 
Jump to:  
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum
Powered by: phpBB
© 2006 ChieuXua
Breast Enhancement | Colon Cleanse | Acne Treatment | Breast Enlargement | Acne
SPACE.com | Science Mag | Bing Webmaster Tools | Socl Social Network

Disclaimer: The publishing of stories, commentaries, information, docs and links on this website will not by any means, shape or form, or otherwise, really express as well as suggest endorsement or even support of any of such published material. Read and try at your own risk.

A not-for-profit Vietnamese organization

Last Updated: February 14, 2012


Top Top